Ý NGHĨA CỦA TIẾNG OM TRONG THẦN CHÚ TIẾNG PALI VÀ SANSKRIT

Tống Phước Khải
Tiếng OṂ được kết hợp từ ba tiếng A-U-M. Tiếng này được cho là rất thiêng liêng đối với nhiều tôn giáo có xuất xứ từ Ấn Độ. Tiếng OṂ được đề cập đến rất nhiều trong các kinh bản Phật giáo. Không chỉ hiện diện trong hệ thống kinh điển tiếng Sanskrit, tiếng OṂ  còn có cả trong kinh điển tiếng Pāḷi. Chúng ta hãy xem các câu kệ tiếng Pāḷi có đề cập đến tiếng OṂ sau đây:
Namo arahato sammā-sambuddhassa mahesino      
Namo uttama-dhammassa svākkhātasseva tenidha      
Namo mahā-saṅghassāpi visuddha-sīla-diṭṭhino          
Namo omātyāraddhassa ratanattayassa sādhukaṃ   
Đây là bốn câu mở đầu trong bài kệ TÁM CÂU NAMO (NAMOKĀRAṬṬHAKA) thường hay được đọc tụng như một bài hộ chú (paritta) của Phật giáo Thái Lan.   Ý nghĩa của các câu kệ này như sau:
Con xin đảnh lễ Bậc Đại Ẩn Sĩ, Bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác.
Con xin đảnh lễ Giáo pháp tối thượng, được khéo thuyết giảng tại đây.
Con xin đảnh lễ đại Tăng chúng, có giới và kiến thanh tịnh.
Con xin đảnh lễ một cách tốt đẹp đến Tam Bảo được bắt đầu bằng OṂ.[1]
Ở câu kệ thứ tư cho thấy việc đảnh lễ Tam Bảo được quy về với sự bắt đầu của tiếng OṂ (AUM) [2]. Ở đây, tiếng OṂ được so sánh với ngôi Tam Bảo gồm Phật, Pháp và Tăng. Xem lại các câu kệ từ thứ nhất đến thứ ba và để ý đến các từ arahato, uttamadhammassa, mahāsaṅghassāpi. Các từ này có ý nghĩa như sau:
- Arahanta: A La Hán, Bậc Ứng Cúng, Đức Phật
- Uttamadhamma: Giáo pháp tối thượng, Phật Pháp
- Mahāsaṅgha: Đại Chúng, Tăng
Các chữ đầu của ba từ này ghép lại thì sẽ thành AUM tức tiếng OṂ. Như vậy tiếng OṂ được ngầm ý là âm thanh khởi đầu của ngôi Tam Bảo với A là khởi đầu của Phật, U là khởi đầu của Pháp và M là khởi đầu của Tăng.
Trong các thần chú thì tiếng OṂ thường được đặt vào vị trí khởi đầu của một câu hay một bài chú. Chẳng hạn như bài thần chú JIVAKA (Kỳ Bà) tiếng Pāḷi, dùng để trị bệnh, được khởi đầu bằng tiếng OṂ:
Oṃ namo jīvako
Karuṇiko sabba sattānaṃ osadha dibbamantaṃ
Pabhāso suriyācandaṃ kumārabhacco pakāsesi vandāmi sirasā ahaṃ
Paṇḍito sumedhasso arogā sumanā homi
Ý nghĩa của bài thần chú như sau:
Oṃ. Con xin đảnh lễ Ngài Jīvaka
Ngài có lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh và ban chúng con thánh dược
Kumārabhacca,  Ngài tỏa sáng  rạng ngời như ánh nhật nguyệt.
Con xin tỏ lòng thành kính đến bậc đại học giả, đại trí giả. Cầu xin Ngài cho con được an vui và khỏi bệnh tật.
Trong quyển CAMBODIAN BUDDHISM – HISTORY AND PRACTICE, trang 100, tác giả Ian Harris đã ghi nhận về câu chuyện thần thoại của Campuchia có liên quan đến tiếng OṂ. Câu chuyện nói về một cặp song sinh tên là Nan Cittakumara và Nor Cittakumari rời khỏi  thế giới Yāma (Dạ Ma) để tìm đường tái sinh vào thể giới Jambudvīpa (Diêm Phù Đề). Họ được một Chư Thiên hiện ra hướng dẫn đi tìm quả cầu pha lê quý báu được tạo thành bởi tinh túy của ba chữ A, U và MA. Ba chữ này hợp thành tiếng OṂ thiêng liêng. Tác giả cũng ghi nhận rằng ba chữ này đại diện cho Tam Tạng giáo điển cao quý (tạng Kinh, tạng Luật, tạng Vi Diệu Pháp).
Trong hệ thống kinh điển Phật giáo tiếng Sanskrit thì tiếng OṂ là một tiếng quan trọng, xuất hiện thường xuyên ở vị trí đầu các câu thần chú. Ý nghĩa của tiếng OṂ được tác giả Alice Getty nêu ra trong quyển THE GODS OF NORTHERN BUDDHISM: THEIR HISTORY AND ICONOGRAPHY rằng Đức Phật A Đề (Ādi-Buddha) đã khởi sự từ tiếng OṂ, Ngài hiện thân trong Tính Không (Śūnyatā) bằng chữ A. Sau đó, A Đề Pháp (Ādi-Dharma) tức Bát Nhã Thiên Nữ (Prajñā Devī) được hiển lộ bằng chữ U. Thần chú chủng tử (vīja mantra) của Tăng là M. Do đó ba chữ A-U-M là thần chú chủng tử của Tam Bảo gồm Phật, Pháp và Tăng.
Chúng ta thấy có sự nhất quán giữa hai hệ thống Pāḷi và Sankrit đó là đều lấy tiếng OṂ thiêng liêng làm để biểu tượng cho Tam Bảo gồm Phật, Pháp và Tăng.
TIẾNG OM VIẾT BẰNG CÁC THỂ CHỮ DÙNG TRONG PHẬT GIÁO

Do đó tiếng OṂ bên cạnh nghĩa thông thường là quy mạng, cảnh giác, nhiếp phục, cúng dường… tiếng này mang ý nghĩa là sự đảnh lễ và quy y Tam Bảo. Khi phân tích thành ba âm A-U-M thì tiếng OṂ trong Phật giáo còn mang các ý nghĩa sau:
- Tịnh hóa Thân, Khẩu, Ý
- Chuyển hóa Tham, Sân, Si
- Thực hành Giới, Định, Tuệ
- Kính lễ ba thân Pháp thân, Báo thân, Ứng hóa thân v.v.
Xét về sự huyền bí của âm thanh, thì các chú sư Phật giáo cũng như Ấn Độ giáo rất xem trọng sự thực hành âm thanh OṂ. Bởi vì âm thanh này là tinh túy của tất cả các âm thanh chú ngữ khác, do đó trước khi đọc tụng thần chú thì việc luyện tập sao cho thành tựu âm thanh OṂ trở thành yếu tố tiên quyết.
Trong Ấn Độ giáo thì OṂ là biểu tượng liên quan đến Brahman (Phạm Thể, Đại Ngã, Thực tại tuyệt đối).  Khái niệm Brahman trên thực tế thì không thể dùng phương tiện hiện hữu để mô tả được. Tiếng OṂ chính là âm thanh thiêng liêng để có thể liễu tri được Brahman. OṂ vừa là sự thể hiện của Brahman, vừa là vượt ngoài sự thể hiện của Brahman.  Trong Áo Nghĩa Thư  (Upanishad) tiếng OṂ được so sánh như một cây cung, còn bản ngã là mũi tên và Brahman chính là đích bắn.  Khi phân tích thành ba âm A-U-M thì trong Ấn Độ giáo tiếng OṂ đại diện cho các bộ ba như:
- Chư Thần: Brahma, Viṣṇu, Śiva
- Hành trạng: Sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt
- Kinh Vệ Đà: Ṛgveda, Yayurveda, Sāmaveda
- Phẩm chất: Chân thật, can đảm, từ bi
- Thời gian: Quá khứ, hiện tại, tương lai v.v.
CHỮ OM CỦA ẤN ĐỘ GIÁO

Tiếng OṂ là một âm thanh nhiệm mầu. Âm thanh này chứa đựng sức cuốn hút kỳ lạ và đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhạc sĩ, nhà văn trong việc sáng tác của mình. Nhà văn người Đức Hermann Hesse, trong tác phẩm SIDDARTHA nổi tiếng, mà bản dịch tiếng Việt đầu tiên dịch tựa là CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG, đã dành trọn một chương để nói về tiếng OṂ. Trong chương này Vesudeva bảo Siddhartha lắng nghe âm thanh của dòng sông “Và khi Siddhartha chăm chú lắng nghe dòng sông, chàng nhận ra đó là tiếng hát của muôn ngàn chất giọng. Khi mà chàng không còn chú tâm đến nỗi đau đớn hay tiếng cười đùa, khi mà chàng cởi trói tâm hồn mình khỏi bất kỳ một  âm giọng riêng biệt nào, để rồi không còn đắm chìm vào đó nữa.Chàng lắng nghe tất cả chúng, nhận thức cái toàn thể, sự nhất thể, và thế là tiếng hát tuyệt vời của muôn ngàn chất giọng vang lên trong một âm từ duy nhất, tiếng OṂ, sự toàn hảo.” [3]                                                                
26/2/2015


[1] Toàn bộ bài kệ Tám Câu Namo như sau:
Namo arahato sammā-sambuddhassa mahesino      
Namo uttama-dhammassa svākkhātasseva tenidha      
Namo mahā-saṅghassāpi visuddha-sīla-diṭṭhino          
Namo omātyāraddhassa ratanattayassa sādhukaṃ   
Namo omakātītassa tassa vatthuttayassapi    
Namo kārappabhāvena vigacchantu upaddavā 
Namo kārānubhāvena suvatthi hotu sabbadā
Namo kārassa tejena vidhimhi homi tejavā.

[2] Chú thích của Bhikkhu Indacanda đối với câu kệ thứ tư như sau:
(Viết lại theo thứ tự) Namo Ratanattayassa omātyāraddhassa sādhukaṃ =
omātyāraddhassa = omāti āraddhassa
omāti = oma + iti
Kính lễ một cách tốt đẹp (sādhukaṃ) đến Tam Bảo (Ratanattayassa) đã được bắt đầu (Ratanattayassa) bằng “oma” (“aum”). iti tương đương với ngoặc kép, trích dẫn lại 1 câu nói hay 1 ý nghĩ.

[3] Theo Hermann Hesse. Siddhartha. Trang 58. Bản  tiếng Anh: “And when Siddhartha was listening attentively to this river, this song of a thousand voices, when he neither listened to the suffering nor the laughter, when he did not tie his soul to any particular voice and submerged his self into it, but when he heard them all, perceived the whole, the oneness, then the great song of the thousand voices consisted of a single word, which was Om: the perfection.” Nguồn https://archive.org/details/ost-english-siddhartha-by-hermann-hesse/

KINH NGOẠI ĐẠO HỎI THÁNH VỀ NGHĨA VÔ NGÃ CỦA PHÁP ĐẠI THỪA

Đại Tạng Kinh _ Tập 17 _ No.846

KINH NGOẠI ĐẠO HỎI THÁNH VỀ NGHĨA VÔ NGÃ CỦA PHÁP ĐẠI THỪA

Hán dịch: Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng_ Triều Tán Đại Phu Thí Hồng Lô Thiếu Khanh_ Truyền Giáo Đại Sư (kẻ bầy tôi là) PHÁP THIÊN phụng chiếu dịch

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH TÔN NA

Đại Tạng Kinh _ Tập 17_ No.845

PHẬT NÓI KINH TÔN NA

Hán dịch: Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng_ Triều Tán Đại Phu Thí Quang Lộc Khanh_ Minh Giáo Đại Sư (kẻ bầy tôi là) PHÁP HIỀN phụng chiếu dịch

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Đại Tạng Kinh_ Tập 17_ No. 779

PHẬT NÓI KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Hán dịch: Đời Hậu Hán_ Nước An Tức_ Tam Tạng AN THẾ CAO

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TAM MUỘI

Đại Tạng Kinh_ Tập 15 _ No.642

PHẬT NÓI KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TAM MUỘI

_QUYỂN HẠ_
Hán dịch: Đời Hậu Tần_Nước Quy Tư_ Tam Tạng CƯU MA LA THẬP

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TAM MUỘI

Đại Tạng Kinh _ Tập 15 _ No.642

PHẬT NÓI KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TAM MUỘI

_QUYỂN THƯỢNG_
Hán dịch: Đời Hậu Tần_Nước Quy Tư_ Tam Tạng CƯU MA LA THẬP

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH BỐN VIỆC CỦA A NAN

Đại Tạng Kinh _ Tập 14_ No.493

PHẬT NÓI KINH BỐN VIỆC CỦA A NAN

Hán dịch: Đời Ngô_Nước Nguyệt Thị (Kuṣana) Cư Sĩ CHI KHIÊM

Việt dịch: HUYỀN THANH

KINH SÁU VỊ BỒ TÁT CŨNG ĐANG TỤNG TRÌ


Đại Tạng Kinh_ Tập 14_ No.491

KINH SÁU VỊ BỒ TÁT CŨNG ĐANG TỤNG TRÌ

Hán dịch: Mất tên người dịch_ Nay phụ bản sao chép đời Hậu Hán

Việt dịch: HUYỀN THANH

KINH VĂN THÙ THƯA HỎI

Đại Tạng Kinh _ Tập 14_ No.469

KINH VĂN THÙ THƯA HỎI

_PHẨM  MẪU TỰ THỨ MƯỜI BỐN_
Hán dịch: Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty_ Đặc Tiến Thí Hồng Lô Khanh_ Túc Quốc Công, thực ấp gồm ba ngàn hộ_ Ban áo tía tặng Tư Không, tên thụy là Đại Giám, tên hiệu chính là  Đại Quảng Trí_Chùa Đại Hưng Thiện_ Tam Tạng Sa Môn BẤT KHÔNG phụng chiếu dịch

Phục hồi Phạn Tự và Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH TINH XÁ ĐẦU VOI

Đại Tạng Kinh _ Tập 14_ No.466

PHẬT NÓI KINH TINH XÁ ĐẦU VOI

Hán dịch: Đời Tùy_ Thiên Trúc Tam Tạng TỲ NI ĐA LƯU CHI

Việt dịch: HUYỀN THANH

KINH BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC CỦA BẢY ĐỨC PHẬT DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG

Đại Tạng Kinh _ Tập 14_ No.451

KINH BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC CỦA BẢY ĐỨC PHẬT DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG

_QUYỂN THƯỢNG_
Hán dịch: Đời Đường_Tam Tạng Sa Môn NGHĨA TỊNH dịch ở Phật Quang Nội Tự.
Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH

KINH BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC CỦA ĐỨC LƯU LY QUANG NHƯ LAI

Đại Tạng Kinh _ Tập 14_ No.450

KINH BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC CỦA ĐỨC  LƯU LY QUANG NHƯ LAI

Hán dịch: Đời Đường_ Tam Tạng Pháp Sư HUYỀN TRANG phụng chiếu dịch

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH BẢN NGUYỆN CỦA DƯỢC SƯ NHƯ LAI

Đại Tạng Kinh _ Tập 14_ No.449

PHẬT NÓI KINH BẢN NGUYỆN CỦA DƯỢC SƯ NHƯ LAI

Hán dịch: Đời Tuỳ_ Thiên Trúc Tam Tạng ĐẠT MA CẬP ĐA

Việt dịch: HUYỀN THANH

ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ NÓI CHÚ

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.369

ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ NÓI CHÚ

Hán văn: Không rõ người dịch

Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH

BẠT NHẤT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐẮC SINH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.368

BẠT NHẤT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐẮC SINH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ

(Trích ra từ Kinh Tiểu Vô Lượng Thọ)
Hán dịch: Lưu Tống_ Thiên Trúc Tam Tạng CẦU NA BẠT ĐÀ LA (Guṇa-bhadra) phụng chiếu dịch lần nữa

Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH

KINH XƯNG TÁN TỊNH ĐỘ PHẬT NHIẾP THỌ

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.367

KINH XƯNG TÁN TỊNH ĐỘ PHẬT NHIẾP THỌ

Hán dịch: Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư HUYỀN TRANG phụng chiếu dịch

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH A DI ĐÀ

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.366

PHẬT NÓI KINH A DI ĐÀ
(Sukhāvatī-vyūhaḥ)


Hán dịch: Đời Diêu Tần_Quy Tư Tam Tạng CƯU MA LA THẬP (Kumārajīva)
Việt dịch: HUYỀN THANH

NGỰ CHẾ VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT TÁN

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.365

NGỰ CHẾ VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT TÁN

PHẬT NÓI KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM

Đại Tạng Kinh _Tập 12_ No.363

PHẬT NÓI KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM

_QUYỂN THƯỢNG_

Hán dịch : Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng_ Triều Tán Đại Phu Thí Quang Lộc Khanh_ Minh Giáo Đại Sư (Kẻ bầy tôi là) PHÁP HIỀN phụng chiếu dịch
Việt dịch : HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH VÔ LƯỢNG THỌ

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.360

PHẬT NÓI KINH VÔ LƯỢNG THỌ

_QUYỂN HẠ_
Hán dịch: Đời Tào Ngụy_ Thiên Trúc Tam Tạng KHƯƠNG TĂNG KHẢI (Saṃgha-varman)

Việt dịch: HUYỀN THANH

PHẬT NÓI KINH VÔ LƯỢNG THỌ

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.360

PHẬT NÓI KINH VÔ LƯỢNG THỌ

_QUYỂN THƯỢNG_
Hán dịch: Đời Tào Ngụy_ Thiên Trúc Tam Tạng KHƯƠNG TĂNG KHẢI (Saṃgha-varman)

Việt dịch: HUYỀN THANH

KINH BỒ TÁT DI LẶC THƯA HỎI VỀ BẢN NGUYỆN

Đại Tạng Kinh_ Tập 12_ No.349

KINH BỒ TÁT DI LẶC THƯA HỎI VỀ BẢN NGUYỆN 

Hán dịch: Đời Tây Tấn _ Nước Nguyệt Thị (Kuṣana) Tam Tạng TRÚC PHÁP HỘ (Dharma-rakṣa)

Việt dịch: HUYỀN THANH

KINHMATGIAO.WORDPRESS.COM



Vui lòng vào địa chỉ:

KinhMatGiao.Wordpress.com


để tải các bài được cập nhật mới nhất